Feeds:
Posts
Comments

Archive for the ‘Các bài viết về thương hiệu’ Category

ImageNarcissisus là tên của một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp. Anh chàng này vô cùng tuấn tú nhưng vì quá đẹp trai nên chàng chỉ yêu chính mình. Sống trên đỉnh Olympia, Narcissisus cho rằng chàng mới là thượng đế, là trung tâm của vũ trụ. Một ngày Narcissus đến bên dòng suối, ngắm nhìn hình bóng xinh đẹp của mình phản chiếu. Chàng ở đó suốt ngày, tự đưa tay vuốt ve cái bóng của mình cho đến mỏi mòn, gục chết bên bờ suối.  Nơi đó đã mọc lên đóa hoa Thủy Tiên trắng muốt. Từ đó hoa Thuỷ Tiên có tên là Narcissisus. Và chứng tự yêu bản thân thái quá (dân mạng thời hiện đại bây giờ có từ khá gần với nghĩa này là “tự sướng”) được gọi là Narcissism.

Gần như tất cả thương hiệu trên thế gian này đều thuộc nằm lòng câu “kinh thánh”: khách hàng là thượng đế, cần phải lắng nghe khách hàng và thấu hiểu họ. Tuy nhiên, một số ít, vô cùng ít, thương hiệu không hẳn đi theo con đường đã vạch sẵn này. Họ tự khai phá một con đường mới và vẫy tay bảo khách hàng: hãy theo tôi và các vị sẽ không phải hối tiếc. Họ ngầm gửi thông điệp rằng họ mới là người tạo ra thượng đế – những người sẽ tôn thờ và trung thành với sản phẩm của họ.

Một trong số những thương hiệu như vậy là Porsche.

Nói đến một chiếc xe siêu sang thể thao, không ai không biết đến thương hiệu Porsche. Thành Rome không được xây trong một giờ. Và việc Porsche định vị thành công vô cùng khác biệt với hàng loạt thương hiệu xe sang khác là cả một câu chuyện dài. Một trong những lý do khiến Porsche khác biệt một cách đáng mơ ước chính là tính “cực đoan” của họ trong thiết kế. Trong cuốn “Thiết kế làm nên thương hiệu”của Jay Green, có đoạn viết rằng “sẽ không có một chiếc Porsche nào được sáng tạo ra bởi một hội đồng, mà chỉ bởi một số rất ít những người ngồi sau bức tường này, những người biết đích xác một chiếc Porsche là gì”.

Những người “ngồi sau bức tường này” ám chỉ những chuyên gia thiết kế sừng sỏ nhất, “dị” nhất trong ngành ô tô đang ngồi tại đại bản doanh của Porche. Nghe có vẻ như Porsche chỉ yêu chính họ, chỉ lắng nghe chính họ thay vì phải lắng nghe khách hàng. Ở khía canh này, có vẻ Porsche rất giống với anh chàng Narcissisus.

Porsche, như chàng trai Narcissisus, rất tự tin vào sắc đẹp của chính mình. Nhưng khác với anh chàng tự kỷ vì quá đẹp này, Porsche không chết khô chết héo một mình bên suối. Ngược lại, Porsche càng đẹp càng độc thì họ càng có nhiềungười khát khao sở hữu họ, khát khao chia sẻ đam mê cái đẹp của họ. Mẫu chốt ở đây là Porche đã rất hiểu insights (sự thật ngầm hiểu) khách hàng của mình. Dù giam mình làm đẹp trong phòng thí nghiệm thiết kế được đóng kín, họ thừa biết ởngoài kia có một bộ phận khách hàng ngóng chờ những mẫu thiết kế độc đáo chỉ mình Porsche sáng tạo ra. Nhóm khách hàng này không đông, nhưng họ giàu và họ thích cái đẹp độc đáo riêng. Porsche không “tự kỷ” với thiết kế độc đáo của họ. Nhưng họ cũng chẳng quan tâm có nhiều người thích thú với điều đó hay không. Họ muốn một vị trí kiêu sa tránh xa ra khỏi những anh công nhân như Honda Accord, Ford Focus hay Fiat. Thậm chí họ không muốn đứng gần những anh quý tộc khác như BMW, Mercedes hay Audi. Điều này thì Porche gần giống anh chàng Narcissisus, họ chẳng tin ai. Họ chỉ tin vào chính họ.

Câu hỏi đặt ra là thương hiệu có nên học tập Porsche trong chiến lược định vị dựa vào chính bản thân họ thay vì cách làmthông thường định vị dựa theo khách hàng. Có lẽ trước khi đặt câu hỏi nên hay không nên, bản thân thương hiệu nên tự hỏi họ họ có gì đặc biệt mỗi khi “soi gương” buổi sáng không đã. Nếu mình tự ngắm mình cố tìm mãi chẳng thấy cái gì “đẹp đẹp” thì hãy tự loại mình từ vòng gửi xe khi cân nhắc chiến lược này. Mà đẹp thôi chưa đủ. Phải rất đẹp và rất độc cơ. Lực hấp dẫn của Porche là ở chỗ các thiết kế của họ đẹp đến nỗi ngay cả những người chẳng biết gì về ô tô, chẳng đam mê gì siêu xe thể thao cũng phải trầm trồ thán phục.

Vậy đó, để có thể chảnh và kiêu, thương hiệu phải được như “trai đẹp” Narcissisus. Tất nhiên không nên “tự sướng” một mình đến chết như nhân vật thần thoại này thì phí của giời. Đã đẹp và độc thì phải để cho thiên hạ ngắm, cái đẹp đó mới bền, mới có ích. Đừng nghĩ Porsche chỉ biết tự cách ly trong bốn bức tường của gian phòng thiết kế của họ. Sau khi hoàn thiện sản phẩm với những thiết kế và tính năng độc đáo chưa ai hình dung ra, họ cũng có nghiên cứu thị trường. Họ mời những tín đồ thích xe sang thể thao đến trải nghiệm và lái thử và cho nhận xét. Nhưng mục đích của Porsche  khi cho khách hàng chiêm ngưỡng và dùng thử này không phải để nghe bình luận làm cơ sở cho việc “tỉa tót” lại sắc đẹp. Họ chỉ muốn lắng nghe để tìm ra phương thức truyền thông và bán hàng hợp lý mà thôi.

Tự tin cao độ vào điểm khác biệt độc đáo của mình, rất ít thương hiệu biết cách “tạo ra thượng đế” như thương hiệu xe thể thao siêu sang Porsche. Đều là sang chảnh, nhưng thay vì chết khô một mình như chàng Narcissisus, Porsche đã mang lại sự trải nghiệm tuyệt vời cho những người thích và có khả năng sở hữu cái đẹp.

Sang, chảnh, kiêu. Thế nào cũng được.  Nhưng phải mang lại lợi ích cho khách hàng. Chỉ tin chính mình. Không sao. Nhưng đừng coi mình là thượng đế như Narcissisus. Hãy biết “tạo ra thượng đế” như Porsche. 

Nguyễn Đức Sơn

Giám đốc chiến lược thương hiệu

 

Advertisements

Read Full Post »

Image

Messi được Chúa sinh ra để làm những điều phi thường. Còn Ronaldo bằng sự nỗ lực bản thân đã tự làm nên những điều phi thường.

Nhận xét này về hai siêu sao bóng đá đương đại đã khái quát rất đúng về xây dựng thương hiệu cá nhân: Messi nhờ tài năng bẩm sinh và Ronaldo nhờ khổ luyện. Cả hai đều nổi tiếng, rất nổi tiếng. Nhưng xuất phát điểm và cách thức để họ nổi tiếng rất khác nhau.

Messi sinh ra đã là thiên tài bẩm sinh về bóng đá. Anh cứ thế bay nhảy tự nhiên với đôi chân siêu việt được điều khiển bởi “ý Chúa”. Anh chẳng mấy khi nói về mình tôi thế này tôi thế nọ. Anh hầu như không bao giờ tự nhận là anh giỏi (cũng lạ nhỉ, anh là người giỏi nhất mà. Ai cũng thấy điều đó. Tội gì phải giấu cơ chứ). Cuộc sống đời tư của anh rất ‘sạch”, kiểu “trắng không tì vết”. Messi được tiếng là khiêm tốn, là ngoan hiền.Thế nhưng anh càng im lặng, người ta lại càng nói nhiều về anh. Messi là thương hiệu cá nhân được hình thành theo kiểu “hữu xạ tự nhiên hương”.

Ronaldo cũng là tài năng bóng đá vượt trội. Anh trên muôn người nhưng dưới một người. Người đó chính là Messi. Anh không chấp nhận thực tế này và làm tất cả để thay đổi nó. Giờ đây đôi chân chơi bóng của anh rõ ràng cũng siêu việt chẳng kém Messi. Đó là kết quả của những giờ tập mướt mồ hôi. Giờ đây anh có thân hình khôi vĩ đẹp không kém các lực sỹ thể hình chuyên nghiệp (chính huyền thoại Arnold Schwarzenegger công nhận điều này). Đó là kết quả của sự khổ luyện trong phòng Gym với ít nhất 3000 động tác cơ bụng mỗi ngày. Anh chẳng được Chúa ban cho nhiều ưu ái như Messi nên anh phải“nổ’ thật nhiều bất cứ lúc nào có thể cho thiên hạ biết rằng anh không thua …Messi. Có lần người ta hỏi anh ai xứng đáng được trao quả bóng vàng, anh nói toạc rằng số một là anh, số hai là anh và số ba cũng là anh nốt. Trái với Messi được gán mác “ngoan hiền”, Ronaldo chẳng ngại ngùng đóng vai nổi loạn: thay bồ như thay áo đấu, luôn xuất hiện bảnh choẹ với đủ kiểu phụ kiện làm đẹp xa xỉ nhất. Gọi anh là “Rô điệu”? Có sao đâu, anh điệu thật mà! Anh muốn cả thế giới thấy rằng anh còn đẹp giai nữa nên anh cứ điệu theo cách anh thích. Hình ảnh cá nhân của anh đã có phần Hot hơn Messi rồi. Nói ngắn gọn, Ronaldo là thương hiệu cá nhân được gây dựng một phần nhờ tài năng, phần khác nhờ biết “xấu nhưng biết phấn đấu” (tất nhiên không phải về “nhan sắc” – khoản này thì Chúa rõ ràng chọn “Rô điệu” và bỏ rơi “Xi lùn”).

Thương hiệu cá nhận là xây dựng cho bản thân thông qua giá trị lợi ích mang lại (dù ít dù nhiều) cho cộng đồng. Tại sao dù “im lặng và khiêm tốn” như Messi hay “nổ tung trời” như Ronaldo đều nhận đươc vô cùng nhiều  “like” và “comment”? Bởi vì Chúa đã sinh ra họ để giúp đời sống tinh thần của hàng tỉ người vui hơn, thú vị hơn vào các ngày cuối tuần.  Họ khác nhau về cách thức xây dựng thương hiệu cá nhân nhưng họ có mẫu số chung về giá trị mang lại cho cộng đồng. Phong cách họ mang đến giá trị đó khác nhau thế nào họ chẳng quan tâm. Thế giới này phán xét họ thế nào họ không cần biết. Vì họ đã sống thật với con người họ. Và họ thấy rất chi là thoải mái với phong cách đó.

Xây dựng thương hiệu cá nhân ngày càng quan trọng và được quan tâm nhiều hơn. Bạn chọn xì tai của Messi hay Ronaldo? Xì tai nào không quan trọng bằng bạn có gì để “xây dựng”. Messi không nói nhiều về bản thân. Đó là tính cách của anh. Anh hợp với những người không thích nổ tưng tưng. Và anh làm rất tốt công việc cần phải làm: sử dụng đôi chân ma thuật Chúa ban tặng để chơi bóng tuyệt hay. Ronaldo với phong cách mạnh mẽ sẵn sàng xù lông nhím  bất cứ lúc nào. Đó là tính cách của anh. Anh hợp với những người không thích “ngoan hiền” quá. Và anh cũng làm rất tuyệt việc cần phải làm: anh chơi bóng ngày càng sexy tuyệt đỉnh.

Bạn quan tâm đến xây dựng thương hiệu cá nhân? Bạn  chọn cách thể hiện thế nào cũng được, miễn là nó “thật” với con người của bạn. Và thật tuyệt vời nếu điều đó làm bạn thấy tự tin, bạn không phải đi vay mượn phong cách của người khác.

Và hãy luôn nhớ phải làm tốt công việc bạn phải làm hàng ngày. Công việc đó nuôi sống bạn, đồng thời mang lại giá trị cho cộng đồng. Đó mới là xây dựng thương hiệu cá nhân thật nhất và cũng bền vững nhất.

Như cách “Rô điệu” và “Xi lùn” đã và đang làm.

Đức Sơn

Read Full Post »

Image

Trong khoa học quân sự, Flanker Strategy (chiến lược tấn công sườn) dùng để hỗ trợ cho mũi tấn công chính, phá rối và gây rối loạn cấu trúc quân đội đối phương. Để dành chiến thắng trận Waterloo lừng lẫy (liên minh Anh Đức hợp sức đánh Pháp tại địa phận làng Waterloo, địa phận nước Bỉ), công tước người Anh Wellington  đã áp dụng rất thành công chiến lược này để đánh bại đội quân bách chiến bách thắng thời ấy của thiên tài quân sự người Pháp Napoleon.

Trong marketing & branding, các nhà quản trị chiến lược “vay mượn” rất nhiều các học thuyết quân sự trong chiến tranh. Trong đó có chiến lược Flanker Strategy.

Chiến lược này được áp dụng khi một thương hiệu đã “thành danh” trên thị trường và tung ra một thương hiệu nhánh cùng chủng loại với mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ. Vì tính chất này, Flanker Strategy về bản chất liên quan đến một vấn để rất nhiều thương hiệu gặp phải: quản trị đa thương hiệu có cùng chủng loại (multi-branding management).

Mục tiêu chính của chiến lược này là nhằm góp phần mở rộng thị trường, tăng doanh số. Nhất là trong trường hợp một thươnghiệu nhánh “chơi” trên sân chơi cấp thấp hơn so với thương hiệu đã thành danh trước đó. Điển hình gần đây là dòng sản phẩm mới giá rẻ (so với các series của Iphone trước đó) Iphone 5C của Apple đã đóng góp vào tăng sale dòng Iphone của mình. Theo thống kê của trang Forbes, sau 3 tuần ra mắt, bộ đôi 5S & 5C đã bán được 9 triệu máy. Một con số kỷ lục kể từ khi series Iphone của Apple ra mắt năm 2007.

Trong quân sự, nhiệm vụ tối thượng của cánh quân đánh tập kích sườn là phá vỡ kết cấu vững chắc đội quân chính của đối phương. Nguyên tắc thành công của chiến lược này là nhanh, gây bất ngờ cho đối phương từ đó quyết định đến kết cục của cả cuộc chiến. Khi đồng minh của quân Anh là quân Phổ tập kích vào sườn quân Pháp, đoàn quân tinh nhuệ của Napoleon nhanh chóng rối loạn và mất tinh thần (điều hiếm khi xảy ra đối với tướng sỹ Pháp thời ấy vốn được đạo tạo huấn luyện rất tốt).

Trong quản trị thương hiệu, nhiệm vụ tối thượng khi tung ra thương hiệu nhánh là tấn công trực diện vào thị phần của đối thủ cạnh tranh có phân khúc gần với thương hiệu “anh em” của mình (một dạng chiến lược phòng thủ từ xa). Ví dụ điển hình gần đây trên thị trường xe máy tại Việt Nam là Honda tung ra dòng sản phẩm SH Mode để cạnh tranh với Piagio trên phân khúc “xe máy thời trang”.

Honda đối với người Việt từ lâu đã có liên tưởng thương hiệu dẫn đầu về chất lượng. Giá trị cốt lõi của Honda: xe máy bền nhất. Người sử dụng không có nhu cầu về self-expression (thể hiện bản thân) khi mua một chiếc Honda.  Ngược lại, Piagio không chỉ đơn giản là một chiếc xe máy. Với nhiều người, Piagio là một‘sản phẩm thời trang và đại diện cho sự lãng mạn và quyến rũ của văn hóa Ý. Người sở hữu Piagio sẽ cảm thấy có một “vị thế cảm xúc” cao hơn bất kỳ loại xe máy nào. Phiên bản xe SH Mode của Honda cũng chạy theo định vị này. Tại buổi ra mắt sản phẩm mới, đích thân tổng giám đốc Honda xuất hiện với y phục và phong cách thời trang Italy để cổ suý cho chiến lược định vị theo đối thủ cạnh tranh Piagio. Với mục tiêu “tấn công từ xa ”Piagio bằng thương hiệu SH Mode, có vẻ như Honda đang thực thi chiến lược Flanker một cách có tính toán. Tuy nhiên, rào cản thành công của chiến lược này đến từ chính thế mạnh của Honda: xe máy chất lượng. Chất lượng là chức năng. Thời trang là cảm xúc. Không hẳn loại trừ nhau nhưng thật khó trở thành liên tưởng dẫn đầu cho cả hai cùng một lúc. SH sống nhờ cái bóng của Honda. Và SH cũng khó “cá chép hoá rồng” chỉ vì Honda. SH Mode nếu thành công, cũng chỉ dừng lại ở vai trò “quấy phá” sân chơi của Piagio. Khó có thể hy vọng thương hiệu nhánh này của Honda hạ gục được Piagio trên phân khúc xe máy thời trang. Trận Waterloo trên thị trường xe máy Việt Nam, vì vậy, có thể chưa xảy ra trong thời gian gần.

Nguyên tắc số một của Flanker strategy là sự xuất hiện của thương hiệu nhánh là không được ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh và uy tín của “thương hiệu anh em” đã tồn tại trước đó. Đây là bài toán đánh đổi giữa tăng doanh số (về ngắn hạn) và hình ảnh thương hiệu (về dài hạn). Cái giỏi của “tướng cầm quân” (các CEO và CMO) khi áp dụng chiến lược flanker là cân bằng (thậm chí tối ưu hoá) được cả hai mục tiêu này. Không đơn giản. Kể cả đối với thương hiệu toàn cầu lừng danh như Apple.

Cho đến nay tranh luận của các chuyêngia marketing về vai trò và ảnh hưởng của dòng sản phẩm Iphone 5C vẫn chưa ngã ngũ. Trước tiên, nên ngừng tranh luận chữ “rẻ” của 5C. Bản thân 5C không rẻ hơn 5S nhiều. Nó cũng không rẻ hơn các dòng smart phone khác như Samsung hay HTC. Nhưng quan trọng là nó “rẻ” hơn 5S và các dòng Iphone trước đó. Và trong nhận thức người mua, nó là dòng giá rẻ khi nói về Iphone. Truyền thông (các ấn phẩm có uy tín như Forbes, CNN Money hay Bloomberg đều gọi 5C là lower-price phone, còn 5S là flagship). Theo thống kê mới nhất của Forbes, kể cả mục tiêu tăng sales (mục tiêu đầu tiên của chiến lược flanker trong marketing) cũng không như Apple mong đợi: cứ 3 cái bán ra thì 5S chiếm 2, còn 5C chỉ có 1. Bản thân Apple đang giảm công suất ban đầu 300,000 cái/ngày xuống 150,000 cái/ngày (theo CNN Money). Nhìn rộng hơn về hình ảnh thương hiệu (ít nhất là tại các nước phát triển), cụm từ “rẻ” của Iphone 5C đang ngấm ngầm “làm hại” hình ảnh cao cấp của Apple nói chung và Iphone nói riêng. Có vẻ như Tim Cook đã nhận ra điều này khi phát biểu tại lễ ra mắt sản phẩm Ipad Air mới đây: luôn có tiềm năng trên phân khúc đại chúng. Nhưng chúng tôi không nằm trong phân khúc đó. 

Trận Waterloo lịch sử đã chính thức đặt dấu chấm hết cho tên tuổi của hoàng để người Pháp Napoleon đồng thời mốc son làm nên tên tuổi của công tước người Anh Wellington. Với chiến lược Flanker Strategy các thương hiệu vẫn đang phát huy công cụ khá hữu hiệu để mở ộng thị trường hay “tấn công chủ động” đối thủ cạnh tranh. Nhưng chúng ta vẫn chưa được chứng kiến một trận Waterloo thực sự long trời lở đất nào trong thế giới marketing hiện đại. Nếu nay mai có xảy ra, đó chắc phải là một cột mốc rất đáng nhớ. Bởi vì trận chiến trong tâm trí khách hàng âm thầm, không khói súng nhưng căng thẳng và khốc liệt không kém.

Nguyễn Đức Sơn – Brand Strategy Director

Richard Moore Associates

 

Read Full Post »

Image

Triết lý thương hiệu là một công cụ khác biệt hoá thương hiệu hiệu quả nhất. Bởi vì mọi cái có thể bắt chước trừ triết lý thương hiệu.

Triết lý là kim chỉ nam làm định hướng cho các hoạt động hành vi/Philosophy is a theory or attitude that acts asa guiding principle for behavior (Oxford Dictionary).

Triết lý thương hiệu là phương châm hành động để đạt tới mục tiêu mà thương hiệu đề ra.

Khác biệt như Apple

Triết lý thương hiệu của Apple hính là câu slogan của họ “Think different”.

Theo quan niệm của Steve Jobs, máy tính không chỉ là một … chiếc máy tính (như kiểu IBM). Máy tính còn phải đẹp. Jobs luôn bị ám ảnh bởi cái đẹp. Cuốn tự truyện của Walter Isaacson có đoạn mô tả rằng ông đã yêu cầu kỹ sư phải thiết kế máy tính Apple II sao cho đường dây và vi mạch bên trong máy phải chạy thật thẳng, đều, và đẹp. Ông bất chấp thực tế rằng khách hàng chẳng bao giờ ngó vào những bộ phận bên trong này của máy tính.

Với triết lý “khác biệt vì cái đẹp” này,  Apple đã cho hàng loạt thương hiệu sừng sỏ lâu đời hít khói: IMac đối với IBM, Ipod đối với máy nghe nhạc Sony Walkman và Iphone đối với Nokia hay Blackberry.

Apple đang bị “nóng gáy” bởi hơi thở gấp gáp từ đối thủ Samsung. Đối thủ từ Hàn Quốc đã “copy & paste”công thức thành công của Quả táo: tập trung vào thiết kế đẹp và chú trọng hoạt động marketing. Tuy nhiên chỉ có điều này thì Samsung chỉ có thể “copy” chứ không thể “paste”: triết lý thương hiệu của Apple. “Khác biệt vì cái đẹp” đã là của riêng Quả táo và khó có định dạng chung cho bất cứ đối thủ nào có thể “paste” thành công. 

Triết lý của IKEA

Triết lý của IKEA là “sản phẩm tốt dành cho tất cả mọi người”. Triết lý này được thể hiện trong cuốn “Tuyên ngôn của nhà buôn gỗ”. Người viết lên cuốn “kinh thánh” này chính là cha đẻ của IKEA, Ingvar Kamprad.

Dòng đầu tiên mà bạn bắt gặp trong cuốn“kinh thánh” này của IKEA chính là “Hãy làm cuộc sống tốt đẹp hơn từng ngày từng ngày cho tất cả mọi người” – đây  cũng là tầm nhìn của IKEA cho đến tậnhôm nay. Kamprad giải thích rằng “Trong kinh doanh cũng vậy quá nhiều sản phẩm mới và thiết kế đep nhưng lại chẳng đến được tay của phần lớn mọi người. Sứ mạng của IKEA là phải thay đổi tình hình này”.

Và chuyện củaViettel

Triết lý của Viettel là hành động khác biệt vì sự khác biệt về nhu cầu của các nhóm khách hàng khác nhau. Họ coi mỗi khách hàngnhư “một cá thể riêng biệt” cần được tôn trọng, quan tâm và lắng nghe, thấu hiểu và phục vụ một cách riêng biệt. Liên tục đổi mới, cùng với khách hàng sáng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ ngày càng hoàn hảo. Câu slogan “hãy nói theo cách của bạn” và biểu tượng logo hình tượng hoá hai dấu ngoặc kép (có ý nghĩa là sự tôn trọng khi trích dẫn phát ngôn của ai đó) đều nhằm mục đích lột tả triết lý thương hiệu của Viettel.

Thực ra “Hãy nói theo cách của bạn” bị lặp lại “Have it your way” nổi tiếng của Burger King. Cái “may” của Viettel là slogan này của Burger King ít người biết đến ở Việt Nam. Nếu không, triết lý hành động khác biệt vì coi “mỗi khách hàng là một cá thể riêng biệt” sẽ khó chuyển tải một cách thuyết phục đến khách hàng hơn.

Cuốn sách “Xây dựng để trường tồn”do hai đồng tác giả người Mỹ Jim Collins và Jerry Porras viết về 18 công ty thành công nhất thế giới trong 100 năm qua. Điểm chung nổi bật mang lại thành công cho những thương hiệu vĩ đại này: trong suốt chiều dài phát triển, họ không bao giờ thay đổi triết lý thương hiệu của mình.

Chiến lược có thể thay đổi, sứ mệnh và tầm nhìn có thể điểu chỉnh. Nhưng triết lý thương hiệu thì không.

Trong một thế giới phẳng, hầu như mọi cái đều có thể bắt chước ngoại trừ triết lý thương hiệu. Không quan trọng triết lý hay hay dở. Thương hiệu cần có triết lý cho riêng mình để trở nên khác biệt.

Nguyễn Đức Sơn

Giám đốc chiến lược thươnghiệu – Richard Moore Associates

Read Full Post »

Image

Nhà thần kinh học Donald Calne có nói “Khác nhau cơ bản giữa cảm xúc và lý trí là cảm xúc dẫn đến hành động, còn lý trí chỉ dẫn đến các kết luận”.

Một hành động có giá trị bằng hàng ngàn lời nói. Và hàng ngàn lời nói cuối cùng cũng chỉ để kêu gọi hành động mà thôi. Trong cuộc sống đời thường đã vậy. Trong truyền thông điều này lại càng đúng. Mọi ý tưởng sảng tạo, mọi lời hay ý đẹp trong truyền thông chẳng có ý nghĩa gì nếu cuối cùng khách hàng chỉ biết và để đấy, không có hành động mua hàng cụ thể.

Nhưng trước khi đi đến hành động cụ thể nào đó (liên quan đến hành vi mua hàng), thương hiệu hãy kết nối cảm xúc với khách hang trước đã.

Năm 1999 Man United lập thành tích ăn ba (vô địch Champion League, Giải ngoại hạng và cup FA) cùng thế hệ vàng Beckham, Gigg, Scholes, Keen, Stam …. Với những cá nhân kiệt xuất này họ đã sản sinh ra một lối chơi sexy (quyến rũ) được gọi thành trường phái “đá kiểu MU”. Cũng năm đó câu lạc bộ Nottingham Forest (cái tên ở Việt nam chẳng mấy ai biết) bị xuống hạng. Khi kết thúc trận đấu cuối cùng của mùa giải trên sân nhà, cậu bé 5 tuổi Jimmy Clark hỏi bố mình – một cổ động viên trung thành của Nottingham đang khóc vẫy tay chào các cầu thủ trên sân: bố ơi sao bố không cổ vũ cho United khỏi phải khóc hả bố? họ có nhiều cúp và đá bóng đẹp thế cơ mà bố? Ông Clack quay lại mỉm cười nói với con trai: không con ạ, đối với chúng ta Nottingham mới là đội sexy nhất.

Nottingham Forest không quan tâm phần còn lại của giải ngoại hạng Anh nghĩ gì. Họ chỉ cần sự cảm thông từ fan trung thành (có thể gọi là khách hàng mục tiêu) là đủ. Đối với những người như bố con ông Clark, Nottingham Forest mới đích thực là “hoa hậu” trong trái tim của của mình.

Starbucks vào Việt Nam. Nhiều người (vì tò mò) mất công xếp hàng dài hang tiếng đồng hổ chỉ để nhận được cốc cà phê to đùng, loãng toẹt với giá ngót ngét 100K. Nhiều người đã thốt lên rằng họ vẫn không hiểu nổi tại sao một loại “nước đường có mùi cà phê” như Starbucks mà vẫn nhiều người mê đến vậy. Họ tuyên bố rằng sẽ chỉ uống cà phê phin đặc sánh ở quan cóc gần nhà thôi.

Starbucks cũng chẳng mấy bận tâm những lời ca thán này đâu. “Nàng Tiên Cá” thầm mỉm cười vì nàng biết rằng một bộ phận lớn giới trẻ đâu có quá quan trọng rằng cà phê nàng pha phải đặc và sánh mùi “bản sắc dân tộc” như ly cà phê phin. Nàng biết tỏng rằng mình mới là “người tình si” của nhóm khách hàng đang tìm kiếm một “nơi thứ 3”. Một nơi không chỉ để uống càphê. Đó là nơi để tụ tập và chia sẻ với bạn bè và đồng nghiệp.

Tại sao bố con ông Clark lại chọn tên tuổi vô danh Nottingham thay vì “người nổi tiếng” Man United làm người tình riêng của mình? Tại sao vẫn có những quán cà phê vỉa hè rang xay giá gần ngang ngửa Starbucks những vần đông nghẹt người uống (ở Hà Nội và Sài Gòn vẫn có những quán kiểu thế này)? Chắc gì những cốc cà phê phin thơm lừng ở các ngõ nhỏ Hà Nội không pha những tạp chất? Thật là phi lý trí. “Mr. Logic” kêu lên như vậy. Tình cảm làm gì có logic. Mr. “Phi Logic” mỉm cười độ lượng.

Người phương Tây đã có câu “Người đẹp trong mắt kẻ tình si” (tiếng Anh: beauty in the eyes of beholders).

Trong cuốn sách “Lovemark”, Juan Carlos Rodriguez (giám đốc điều hành của Saatchi & Saatchi) cho rằng thương hiệu thành công thường được nhân cách hoá như một con người. Lovemark chính là những thương hiệu truyền cảm hứng cho khách hàng theo cách như những người thânyêu và bạn bè của họ đã làm. Định nghĩa về Lovemark nói rằng, con người bị chi phối nhiều hơn bởi cảm xúc thay vì lý trí. 

Đối tác nghiên cứu thị trường của Saatchi & Saatchi, công ty AMR London, đã khảo sát 4000 thương hiệu tại 50 quốc gia về tỷ lệ bao nhiêu thương hiệu được gọi là Lovemark. Kết quả cho thấy người tiêu dung rất khắt khe: chỉ có 10% thương hiệu được khảo sát có được may mắn này.

Lượng fan Man United trên toàn cầu là hơn 600 triệu người (theo số liệu khảo sát năm 2012 của Kantar Media – công ty nghiên cứu thị trường hàng đầu của Anh). Có nghĩa cứ khoảng 10 người thì có một người là fan của Quỷ Đỏ (tất nhiên có nhiều cách định nghĩa như thế nào là một fan đúng nghĩa). Hãy đặt giả thiết (tất nhiên là không tưởng) thế này: nếu United bị xuống hạng như Nottingham Forest, sẽ có bao nhiêu người sẽ kề vai cùng họ, khóc giọt nước mắt đồng cảm và vẫn tự hào nói: đối với tôi, United vẫn là tình yêu duy nhất và đẹp nhất mà tôi có. Với tên tuổi hấp dẫn như United, nếu giả thiết trên xảy ra, sẽ có rất rất nhiều trái tim đồng cảm như bố con nhà ông Clark nói về Nottingham Forest. Ở khía cạnh này, Nottingham có thể tự hào sánh ngang United về tiêu chí có được những “kẻ tình si” trong mắt fan hâmmộ của mình. Tuy không có tên tuổi, Nottingham forest đã là một Lovemark. Không cần nhiều, chỉ cần đối với nhóm khách hàng trung thành củamình.

Cảm xúc con người vốn rất đỏng đảnh. Nó yêu người này ghét người kia nhiều lúc không theo một logic nào cả. Thay vì phân tích logic, thương hiệu phải “bắt song” được cảm xúc của người tiêu dùng để “phát sóng” trở lại cùng tần suất. Lòng trung thành thương hiệu, nhiều khi hình thành từ những yếu tố rất trừu tượng, khó lượng hoá. Nottingham Forest làm sao chơi bóng sexy được như Man Unitted. Quán cà phê vỉa hè nào đó làm sao long lanh hoành tráng được như Starbucks. Nhưng muốn tồn tại (cho dù là quy mô nhỏ), họ đều phải chiếm cho được một nhóm khách hàng trung thành cho riêng mình.

Một thương hiệu bất kể lớn hay bé, nổi tiếng hay vô danh đều phải “đẹp” trong mắt “kẻ tình si” của họ: khách hàng mục tiêu. Nếu chưa làm được điều này, có lẽ mỗi sản phẩm dịch vụ mãi mãi chỉ là “hàng hoá”, chưa thể gọi là “thương hiệu”.

Thương hiệu hãy là một Lovemark cho “người tình” riêng của mình.

Đức Sơn

Richard Moore Associates

 

Read Full Post »

ImageCái gì đầu tiên thường nhớ lâu. Mối tình đầu cũng vậy. Không hẳn vì nó hoàn hảo. Nhà văn Pháp Bernard Shaw viết rằng “Mối tình đầu là một chút khờ dại và rất nhiều sự tò mò” (Nguyên văn tiếng Anh: First love is only alittle foolishness and a lot of curiosity). Không nhiều mối tình đầu kết thúc có hậu. Nhưng tình đầu thường vô tư, không tính toán. Do vậy tình đầu được nhớ đến như một kỷ niệm đẹp.

Cái gì đầu tiên thường khó quên. Thương hiệu đầu tiên cũng vậy. Không phải vì thương hiệu đầu tiên lúc nào cũng tốt hơn thương hiệu ra sau. Học giả Al Ries đã đúc kết thành quy luật rằng “Marketing là cuộc chiến trong tâm lý khách hàng” (Nguyên văn tiếng Anh: Marketing is the battle in your mind). La Vie là nước khoáng đóng chai đầu tiên. La Vie chẳng có gì vượt trội những Aquafina hay Thạch Bích về chất lượng cả. Điểm mạnh duy nhất của La Vie là thương hiệu đầu tiên. Khi một người nói “cho tôi một chai La Vie”, anh ta đang “order” một chai nước khoáng nói chung. La Vie đã trở thành tên đại diện cho một chủng loại sản phẩm.

Không phải tình yêu đầu tiên nào cũng đi đến hôn nhân.  Không phải thương hiệu đầu tiên cũng được khách hàng đón nhận. Rất nhiều thương hiệu xuất hiện đầu tiên trên thị trường và lặng lẽ biến mất.

Năm 2004, Tập đoàn Tân Hiệp Phát đầu tư 20 triệu đô la sản xuất bia tươi đóng chai cao cấp mang tên Laser. Gần 3 triệu đô la được dành riêng cho quảng cáo “bia tươi đóng chai đầu tiên tại Việt Nam”. Chỉ sau một năm ra mắt, Laser đã biến mất khỏi thị trường. Thất bại này là có thể dự đoán trước: thời điểm đó vẫn còn khá sớm để giới thiệu ý tưởng “bia tươi đóng chai” cao cấp tới thị trường mà hầu hết những người uống bia đều nghĩ bia hơi hay bia tươi chỉ là loại bia rẻ tiền trong các nhà hàng, quán nhậu bình dân. Ngoài ra, Laser lại được định giá rất cao, kể cả khi so sánh với các nhãn hiệu bia cao cấp quốc tế (bia chai và bia lon) như Heineken hay Tiger.

Trong những năm gần đây, có một vài thương hiệu cà phê đóng lon mới ra mắt thị trường Việt Nam. Đó là Birdy (do Ajinomoto giới thiệunăm 2008), Cafe Vip (do tân Hiệp Phát giới thiệu năm 2009) và Cà phê đóng lon Nestle (2009). Dù những thương hiệu này vẫn may mắn “sống sót” trên thị trường, nhưng chúng vẫn đang phải vật lộn để tồn tại với thách thức đến từ văn hoá uống cà phê truyền thống của người Việt Nam.

Ý tưởng sản phẩm mới mang đột phá nhưng chưa hội đủ điều kiện về “sự phù hợp” và “khác biệt cạnh tranh” so với sản phẩm đã tồn tại trước đó.Người tiêu dùng luôn tò mò trước những thứ mới lạ nhưng không có nghĩa họ sẵn lòng đón nhận tất cả. Trong thời đại ngập lụt thông tin như hiện nay, tâm trí con người chỉ chấp nhận những ý tưởng sản phẩm mới thích ứng với kỳ vọng đã có sẵn trong suy nghĩ của họ. Khách hàng thường có xu hướng tiếp nhận những cái “Đầu tiên” nhưng vẫn phải “Quen thuộc” và hữu ích thay vì những sản phẩm lạ lẫm và không mấy thuận tiện.

Tình yêu đầu tiên dễ được đón nhận. Không tính toán và rất trong sáng. Đâu có lựa chọn thứ hai cho tình đầu. Thương hiệu đầu tiên không có được may mắn như vậy. Khách hàng sẽ cân nhắc và tính toán thiệt hơn. Họ có rất nhiều lựa chọn khác nhau.

Trung Nguyên ngắm nghía thị trường nước Mỹ đã lâu. Trên mặt trận truyền thông, Trung Nguyên khá thành công khi là người đầu tiên “tấn công” khá ồn ào người khổng lồ Starbucks bằng một loạt phát ngôn gây tranh cãi của chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ. Không chỉ báo chí trong nước, câu chuyện Trung Nguyên cũng đã xuất hiện khá nhiều trên các đầu báo tại Mỹ. Anh Vũ nói “Starbucks không còn giữ được bản sắc riêng như thời kỳ đầu nữa. Họ sắp hết thời rồi, và chúng tôi sẽ là những người thay thế”. Người Mỹ có thể sẽ đón nhận nó như một lời tuyên chiến đầu tiên hơn là lời tỏ tình đầu tiên.

Những lời đao to búa lớn dễ gây chú ý của dư luận. Nhưng để đi vào lòng người, một câu chuyện hay và sáng tạo về truyền thông sẽ thuyết phục hơn. Cà phê Phine Deli là một dẫn chứng.

“Ai sinh ra cũng đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho ta những quyền bất khả xâm phạm. Đó là quyền được sống, quyền được hưởng thụ và quyền được… thưởng thức cà phê. Hôm nay, chúng tôi chính thức giới thiệu “Tuyên ngôn cà phê Việt” ngay trên thị trấn Mỹ Buford – do chính người Việt sở hữu. Và hôm nay, chúng tôi cũng chính thức đổi tên thị trấn Buford với 147 năm lịch sử thành Thị trấn PhinDeli”.

Trên đây là trích dẫn “Tuyên ngôn cà phê Việt trên đất Mỹ” của PhinDeli. Tham vọng ngang ngửa … Trung Nguyên. Nhưng cách thể hiện có nét gì đó hỏm hỉnh hơn, sáng tạo hơn. Nhất là ý tưởng bắt chước cách đặt vấn đề trong tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ “ai sinh ra cũng có quyền bình đẳng”. Phin Deli đã biết phát huy một câu chuyện thương hiệu rất hay: doanh nhân Việt Phạm Đình Nguyên chiến thắng ngẹt thở trong cuộcđấu giá giành quyền sở hữu thị trấn Buford cách đó chưa lâu. Nay ông đổi tên thành thị trấn Phin Deli với tham vọng đưa cà phê Việt vào đất Mỹ. Reuters đã có bình luận: “Tái sinh thị trấn một công dân ở Wyoming thành trung tâm cà phê Việt”.

Là người đến sau, nhưng có vẻ Phin Deli đã có màn ra mắt như một “người tình đầu tiên” đối với nước Mỹ.

Tình yêu đầu tiên luôn được xem là đầu tiên. Nhưng thương hiệu xuất hiện đầu tiên không dễ trở thành đầu tiên đối với khách hàng. Cần có một câu chuyện hay, một lời tỏ tình ngọt ngào, rất ngọt ngào, thương hiệu mới có thể trở thành “đầu tiên” trong tâm trí khách hàng được.

Và khác với nhiều câu chuyện tình đầu tiên, thương hiệu đầu tiên khi thành công thường đi đến … hôn nhân. Khi đã kết “mối tình đầu” với thương hiệu nào đó, khách hàng sẽ rất trung thành. Gần như là mãi mãi.

Nguyễn Đức Sơn

Richard Moore Associates

Read Full Post »

1009842_10151841326609910_874205807_nNgành xe hơi nước Mỹ  vô cùng biết ơn Henry Ford – người sáng lập thương hiệu xe Ford. Chiếc xe Ford đời T-model của đã mang lại cho nước Mỹ cuộc cách mạng: người bình thường có thể sở hữu chiếc xe cơ giới giá cả bình dân thay thế phương tiện xe ngựa truyền thống.

Lịch sử chiếc xe T-Model cũng ghi nhận câu nói bất hủ của cha đẻ của nó: ‘Nếu tôi hỏi khách hàng xem họ muốn gì, có lẽ họ sẽ nói rằng họ muốn có một con ngựa biết chạy nhanh hơn”.

Đừng vội hắt hủi công cụ nghiên cứu thị trường. Cũng đừng cả tin bắt chước ngay Ford.

Các thương hiệu vẫn phải triển khai nghiên cứu thị trường để biết insights (suy nghĩ, mong muốn, kỳ vọng) của khách hàng. Tuy nhiên đừng để rơi vào cái bẫy “chạy theo” những gì nghe được từ phía khách hàng chia sẻ. Có nhiều lý do để giải thích sự vênh nhau giữa những gì họ “nói” và “làm”: sự thiếu khéo léo của moderator khi phỏng vấn, bị ‘dẫn dắt” bởi ý kiến chia sẻ của những người trước đó hay đơn giản là trả lời “yes” về một câu hỏi nào đó để tỏ ra mình có hiểu biết.

Có ai mà không thích bỏ tiền ít nhưng mua được mặt hàng giá trị, nhất là đối với những sảng phẩm định vị cạnh tranh bằng giá rẻ. Ấy vậy mà thương hiệu xe hơi Tata Nano của Ấn độ lại “chết” vì rẻ quá.

Tata Nano được mệnh danh là ôtô rẻ nhất thế giới nhưng lại không đạt được thành công như hãng sản xuất kỳ vọng từ khi ra mắt năm 2008. Bắt đầu giao hàng từ tháng 7/2009, chỉ có 229.157 chiếc Nano bán ra tại Ấn Độ, dù nhà máy Tata có khả năng xuất xưởng 250.000 xe mỗi năm. Số liệu năm 2013 cho thấy doanh số còn giảm 86% so với 2012.

Khi được hỏi về một chiếc xe hơi bình dân cho phân khúc bình dân, khách hàng nào cũng mong muốn giá thật rẻ, càng rẻ càng tốt. Nhưng thật nghịch lý, với giá khoảng 2.800 USD, khách hàng lại không coi đó là một chiếc xe hơi.

Con người nhiều khi mâu thuẫn với chính bản thân họ. Cuốn sách “Phi lý trí” của nhà tâm lý học hành vi Dan Ariely có giải thích rằng sự chính xác các quyết định của con người đều mang tính tương đối. Không ai dám chắc hành vi tiêu dùng của khách hàng cho đến khi nó xảy ra. Một người khi tham gia Focus Group Discussion (thảo luận nhóm – một hình thức nghiên cứu định tính) nói rằng anh thích uống bia Heineken. Nhưng chỉ ngay buổi thảo luận, moderator bắt gặp anh đang ngồi uống bia … Hà Nội tại quán vỉa hè. Lý do? Trước mặt những người cùng tham gia thảo luận nhóm, anh cứ “nổ” uống thằng Ken cho nó oai. Còn khi chỉ có mấy thằng bạn với nhau, uống thằng Hà Nội vừa ngon vửa rẻ.

Dan Ariely kết luận rằng hành động thoạt trông nhiều khi vô lý của con người “mang tính hệ thống và có thể dự đoán trước”.

Chỉ “có thể” dự đoán thôi và không dễ để làm điều này. Về cơ bản, tính khoa học và logic thường có sức thuyết phục. Nhưng nếu mọi hành vi, mọi sự vật hiện tượng đều có thể giải thích bằng logic khô khốc kiểu một cộng một bằng hai thì có lẽ nên mời các nhà toán học làm chuyên gia ….. marketing.

Sự khác nhau nằm ở khả năng “đọc” và đoán trước hành vi khách hàng và xu thế thị trường.

Henrry Ford lấy sự “phi lý” của mình khi tung ra mẫu xe T-Model để đối phó với sự “phi lý trí” của khách hàng.

Nhưng không phải ai cũng là Henrry Ford – đủ tài và đủ cá tính để định hướng thị trường thay vì chỉ cố gắng đáp ứng nhu cầu thị trường. Phần lớn chúng ta là “người trần mắt thịt” nên càng phải biết lắng nghe thị trường , thấu hiểu hiểu khách hàng. Cho dù khách hàng có hành động“phi lý trí” thế nào đi chăng nữa, cuối cùng họ cũng sẽ lắng nghe những thương hiệu đủ kiên nhẫn.

Lý trí không phải khi nào cũng … lý trí. Hãy cố gắng hiểu “nửa còn lại” của suy nghĩ lo-gic bằng chính sự phi lý trí. Không dễ chút nào. Nhưng đó mới là lẽ phải của lý trí.

Nguyễn Đức Sơn

Brand Strategy Director – Richard Moore Associates

Read Full Post »

Older Posts »

%d bloggers like this: